• Sản phẩm
  • Tin tức
  • Bản tin kỹ thuật
vietnamese flag english flag
banner UV
Bản tin kỹ thuật >>
PDF
ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC VÀ HUYẾT HỌC Ở CÁ TRA NHIỄM VI KHUẨN EDWARDSIELLA ICTALURI - THS. ĐẶNG THỤY MAI THY, KTS, ĐH CẦN THƠ

 

Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra đã gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến nền công nghiệp nuôi cá da trơn ở các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, lần đầu tiên phát hiện vi khuẩn hình que gây bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) vào cuối năm 1998 và gọi là bệnh BNP (Bacillary Necrosis of Pagasius). Đến năm 2002, đã định danh vi khuẩn gây bệnh là Edwardsiella ictaluri và gọi là bệnh mủ gan trên cá tra (Từ Thanh Dung et al., 2004). Tỉ lệ chết do bệnh này có thể lên đến 60-80%.

 

Quan sát mẫu phết kính tế bào máu cá tra cảm nhiễm E. ictaluri bằng phương pháp nhuộm Giemsa thấy xuất hiện nhiều cụm vi khuẩn và tế bào máu bị biến đổi hình dạng. Vi khuẩn tấn công làm màng tế bào hồng cầu bị phá vỡ, bên trong tế bào chất có nhiều khoảng không bào hay không còn tế bào chất. Bên cạnh đó, các loại tế bào bạch cầu cũng thay đổi hình dạng, trên cá bệnh cũng tìm thấy bốn loại tế bào bạch cầu. Quan sát hình dạng cho thấy màng bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính và tiểu cầu biến đổi, một số tế bào không còn thấy màng tế bào, xuất hiện nhiều khoảng trống ở tế bào chất của bạch cầu đơn nhân và nhân tiểu cầu cũng xuất hiện không bào, không quan sát thấy sự biến đổi này ở tế bào lympho (Hình 1).

 

Hình 1: Máu cá tra cảm nhiễm E. ictaluri (Giemsa, 1000x). A: Các loại tế bào bạch cầu trong máu cá bệnh; B: Vi khuẩn hình que trong tế bào chất của hồng cầu (mũi tên); C: Màng tế bào hồng cầu bị vỡ xuất hiện nhiều không bào trong tế bào chất (a); màng tiểu cầu bị vỡ và nhân có không bào (b); D: Màng bạch cầu đơn nhân bị vi khuẩn phá vỡ trong tế bào chất xuất hiện nhiều khoảng trống.  

 

Tổng hồng cầu ở cá khỏe dao động từ 2,20-2,22 triệu tế bào/mm3 trong khi đó tổng hồng cầu cá bệnh 1,52-1,63 triệu tế bào/mm3 (giảm 0,69-0,74 lần). Số lượng bạch cầu ở cá nhiễm vi khuẩn giảm nhiều 92,15-98,26 ngàn tế bào/mm3. Định loại tế bào bạch cầu trong máu cá tra khỏe cho thấy tế bào lympho có số lượng nhiều nhất 112,75 ngàn tế bào/mm3 (chiếm 67,7%), kế đến là tiểu cầu 31,57 ngàn tế bào/mm3 (chiếm 19%), bạch cầu trung tính (BCTT) có số lượng 15,82 ngàn tế bào/mm3 (chiếm 9,5%) và ít nhất là bạch cầu đa nhân (BCĐN) có số lượng là 6,32 ngàn tế bào/mm3 (3,8%) ở cá. Trong khi đó, số tế bào lympho ở cá bệnh giảm 0,42-0,47 lần. Số lượng tiểu cầu cũng giảm ½ lần. Ngược lại, số lượng BCĐN và BCTT lại tăng ở cá bệnh. BCĐN và BCTT là thành phần chủ yếu và đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch không đặc hiệu của cá vì vậy khi cá bị nhiễm vi khuẩn thì hoạt động của hệ bạch huyết gia tăng nhằm tiêu diệt vi khuẩn. Toida et al. (2003) cho rằng do sự tập trung nhanh chóng tế bào lympho ở những vùng bị viêm làm cho quá trình cung cấp bổ sung tế bào này ở vùng ngoại vi của máu bị giảm.

Quan sát kính phết mẫu tươi nhuộm Giemsa ở gan, thận và tỳ tạng cá cảm nhiễm E. ictaluri thấy xuất hiện vi khuẩn hình que riêng lẻ hay từng cụm. Ngoài ra, trên mẫu thận và tỳ tạng còn xuất hiện các đại thực bào thực bào vi khuẩn (Hình 2). Cấu trúc mô thận cá tra nhiễm E. ictaluri chủ yếu là xuất huyết, xung huyết và biến đổi cấu trúc tế bào. Nhiều vùng tế bào bị hoại tử hạt (ngày thứ hai và ba sau khi nhiễm vi khuẩn). Cấu trúc tiểu cầu thận biến đổi, tế bào biểu mô cấu tạo nên ống thận bị vỡ tạo xoang rỗng, hoại tử xen lẫn với tế bào mô kẽ quanh ống thận và tế bào của tuyến nội tiết. Hoại tử hóa lỏng xảy ra do vi khuẩn tiết độc tố dẫn đến sự phân hủy các enzyme trong tế bào (Roberts, 1978; Ferguson, 1989). Giai đoạn này, ống thận và tiểu cầu thận gần như biến mất, quản cầu thận sung huyết phình to và vỡ ra gây nên hiện tượng xuất huyết khắp thận, quản cầu thận hoại tử. Ở cá thu vào những ngày gần kết thúc thí nghiệm, mô thận bị xung huyết và dịch viêm. Xung huyết là phản ứng của cơ thể với tác nhân gây bệnh, xảy ra do kích thích đặc biệt làm mao mạch nở ra nên một lượng máu lớn hơn bình thường được đưa đến gần ổ viêm. Tương tự như thay đổi cấu trúc mô thận, sự biến đổi ở tỳ tạng gồm xung huyết, xuất huyết và hoại tử hạt đến gần hóa lỏng. Đặc biệt nhiều trung tâm đại thực bào sắc tố màu vàng nâu xuất hiện trên mô tỳ tạng. Vi khuẩn gây bệnh tấn công làm cho cấu trúc tỳ tạng bị biến đổi. So với thận và tỳ tạng, cấu trúc mô gan biến đổi chậm hơn nhưng vẫn có các biến đổi như liên kết cấu trúc tế bào phá hủy, đảo tụy và tĩnh mạch gan xung huyết. Nhiều vùng tế bào có hiện tượng xuất huyết, bị biến đổi cấu trúc và hoại tử hạt. Hiện tượng hoại tử xuất hiện từ hoại tử hạt đến hóa lỏng. Ở vùng xung huyết tế bào máu bị phân hủy tạo thành dịch, tế bào hồng cầu bị hủy hoại, nhân tan, tế bào chất trở nên đồng nhất bắt màu eosin. Mô gan xuất hiện nhiều vùng dịch viêm và nhiều đốm hắc tố do phản ứng miễn nhiễm tạo thành (Hình 3).

 

 

 

 

Hình 2: Vi khuẩn trong các cơ quan của cá tra (Giemsa, 1000x). A: Nhiều cụm vi khuẩn ở gan cá tra; B: Đại thực bào thực bào vi khuẩn ở thận; C: Đại thực bào thực bào vi khuẩn ở tỳ tạng; D: Vi khuẩn phá hủy màng tế bào hồng cầu ở tỳ tạng.

 

 

 

 

Hình 3:Thận cá tra nhiễm E. ictaluri (H&E). A: Thận cá khoẻ. (a: tiểu cầu thận, b: ống thận) (200x); B: Vùng tế bào bị biến đổi cấu trúc (200x); C: Xung huyết và xuất huyết ở nhiều vùng trên thận (200x); D: Hoại tử hoá lỏng trên thận (a), b: trung tâm đại thực bào sắc tố (400x)

 

 

Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả.

Bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam.

Quay lại

Các bài viết khác
Ý kiến của bạn

Videos

  • Sản phẩm Đơn vị Giá (VND)
  • tôm
    Sản phẩm Đơn vị Giá (VND)
  • heo
    Sản phẩm Đơn vị Giá (VND)
  • Sản phẩm Đơn vị Giá (VND)

Thư viện hình ảnh

Nha may 1 tom 1 van phong 1 van phong 2 Ca  1 Ca 2 tom 2