vietnamese flag english flag
banner UV
Bản tin kỹ thuật >> Thú Y
Nghiên Cứu Và Sử Dụng Diệp Hạ Châu Đắng Và Các Hoạt Chất Trong Chữa Bệnh - TS Võ Thị Trà An, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Đại học Nông Lâm TP.HCM

1. Tên gọi và phân loại

Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus Schum. & Thonn) còn gọi là cây chó đẻ vì người ta thấy chó cái sau khi sinh thường ăn cây này để ít chảy máu. Được gọi là diệp hạ châu (ngọc dưới lá) là do hình thái hoa (anthos) của cây này nằm treo dưới lá (phyllon). Loài cây này còn có tên là “cây tán sỏi” theo tiếng Tây Ban Nha (chanca piedra) vì có công dụng trị sỏi thận, sỏi bàng quang.

Diệp hạ châu đắng thuộc họ Thầu dầu, mọc hoang ở nơi đất ẩm khắp các địa phương của Việt Nam và các vùng khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới khác. Đây là loài cây thảo, sống quanh năm, sống dai, cao 20-30cm, cây cao khoảng 60-70 cm. Thân cây nhẵn, có màu  xanh. Lá hình bầu dục, mọc so le, xếp khít nhau thành 2 dãy như 1 lá kép hình lông chim. Hoa mọc ở kẽ lá. Quả nang, hình cầu, hơi dẹt, mọc rủ xuống ở dưới cuống lá.

Có 3 loài cây gần giống nhau. (1) Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus hayniruri) toàn thân có màu xanh tươi, cành ngắn, rất ít phân nhánh, phiến lá màu xanh nhạt, ngắn và mỏng hơn cây diệp hạ châu thân đỏ. Khi nhai có vị đắng nên trong đông y được gọi là cây diệp hạ châu đắng. Đây là loài có dược tính mạnh nhất. (2) Diệp hạ châu ngọt (Phyllanthus urinaria), thân màu hanh đỏ (Hình 1) và màu thường đậm nơi gốc cành, phân nhánh rất nhiều, phiến lá màu xanh hơi đậm, dài và dầy hơn cây diệp hạ châu thân xanh. Khi nhai có vị ngọt nên trong đông y được gọi là cây diệp hạ châu ngọt. Diệp hạ châu ngọt vẫn được khai thác trong tự nhiên để làm thuốc nhưng có lẽ dược tính không mạnh bằng diệp hạ châu đắng nên không được trồng đại trà. (3) Một loài diệp hạ châu nữa Phyllanthus sp. có màu xanh đậm, lá rời rạc, phiến lá hẹp và chóp nhọn hơn so với hai loài trên. Loài này không được dùng làm thuốc.

2. Sử dụng diệp hạ châu theo ghi nhận trong dân gian

Bảng 1.Kinh nghiệm sử dụng diệp hạ châu tại các quốc gia khác nhau

Địa phương

Trị bệnh

Cách dùng

Nguồn(*)

Ấn độ

Đau đầu

Vàng da

Toàn cây sắc trong dầu gừng, lọc, đắp lên đầu.

Sắc rễ tươi trong nước, uống

Balakrishnan và ctv (2009)

Ấn độ

Vàng da

Nước cốt lá dùng để uống

Ignacimuthu và ctv (2008)

Ấn độ

Lậu, giang mai

Sốt rét

Sắc lá, đường và nghệ uống

Sắc toàn cây trong nước, uống

Upadhyyay và ctv (2010)

Ấn độ

Vàng da

Nước cốt rễ uống với sữa bò vào sáng sớm, 1 tuần

Rajakumar và Shivanna (2009)

Ấn độ

Vàng da

Nước cốt toàn cây, 1 muỗng/ ngày, 3 ngày

Ahirra và Patil (2010)

Ấn độ

Vàng da

15 ml nước cốt toàn cây uống lúc dạ dày trống

Udayan và ctv (2007)

Ấn độ

Vàng da

Xay là tươi trộn với 1 ly sữa bò/ dê, uống

Muthu và ctv (2006)

Brazil

Sỏi thận

Uống nước sắc lá tươi

Cartaxo và ctv (2010)

Nigeria

Sốt rét

Sắc lá với nước, uống 4 lần/ ngày, 5 ngày

Ajibesin và ctv (2008)

Nigeria

Đau dạ dày

Ngâm lá trong rượu và chiết ra uống

Idu và ctv (2008)

Thái lan

Mụn ban

Giã lá tươi đắp ngoài

Inta và ctv (2008)

(*)theo Patela, 2011

3. Thành phần các hợp chất trong diệp hạ châu

  Theo tổng kết của Patel và ctv (2011), các hợp chất có hoạt tính trong diệp hạ châu đắng là các lignan (phyllanthin, hypophyllanthin, nirurin niranthin, phyltetralin, niranthine, nirtetralin ...; flavonoids (quercetin, quercetrin, rutin, gallocatechin, phyllanthusiin, kaempferol …), Ellagitannins viz. geraniin, amariin, furosin, geraniinic acid, amariinic acid, amarulone, repandusinic acid, corilagin, isocorilagin, elaeocarpusin, phyllanthin D gallic acid, repandusinic acid A etc., triterpenes (phyllanthenol, phyllanthenone, phytllantheol,); alkaloids (securinine, dihydrosecurinine, tetrahydrosecurinine, securinol, phyllanthine, allosecurine, nor-securinine, epibubbialine, isobubbialine, 4-methoxy dihydrosecurinine, 4-methoxytetrahydrosecurinine, 4-hydrosecurinine etc.), sterol (amarosterol-A, amarosterol-B ...) and béo bay hơi (linalool, phytol...). Các lignin liên quan đến hoạt tính kháng viêm như nirtetralin, phyltetralin hoặc niranthin ức chế PAF sản sinh từ quá trình sưng viêm. Phyltetralin, nirtetralin và niranthin ức chế carrageenan tạo ra trong quá trình viêm và sự lan tràn bạch cầu trung tính. Trong vai trò kháng virus viêm gan, niranthin cũng thể hiện hoạt tính chống HBsAg còn henokinin thể hiện hoạt tính chống HBeAg. Elllagitanins geraniin và corilagin được chứng minh là chất trung gian có tiềm năng kháng lại sự nhân lên của HIV-1 trong tế bào Hela CD4+. Các phức chất phenol trong dịch chiết với nước của diệp hạ châu có hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất là phyllanthin, amariin, repandusinic acid và phyllanthusiin D. Hoạt tính chống ung thư cũng được thử nghiệm trên chuột với hỗn hợp phyllanthin và hypophyllanthin (1:1). Phyllanthin được chứng minh vai trò bảo vệ tế bào gan chuột gây độc với ethanol hoặc CCl4.

4. Các nghiên cứu về tác dụng dược lý của diệp hạ châu và các hợp chất ly trích từ diệp hạ châu

Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh tác dụng bảo vệ gan của chất chiết diệp hạ châu hoặc những hoạt chất từ diệp hạ châu. Chatterjee và Sil (2007) chứng minh diệp hạ châu có tác dụng bảo vệ gan chuột khi gây độc bằng nimesulide – một thuốc kháng viêm không steroide (COX) với liều 750mg/kg P trong 3 ngày. Chirdchupunseree và Pramyothin (2010) chứng minh vai trò của phyllanthin trong việc bảo vệ tế bào gan do đối kháng với những ảnh hưởng gây độc gan của cồn ethanol. Chất này cũng hồi phục lại khả năng chống oxy hóa của tế bào gan chuột bao gồm glutathione tổng số và hoạt tính của glutathione reductase.

Theo dẫn liệu của Patela (2011), chất chiết với cồn của P. amarusđược chứng minh là có hoạt tính cao nhất chống lại Salmonella Typhi qua phương pháp khuếch tán trên thạch với đường kính vòng vô khuẩn là 8,0 mm so với đường kính vòng vô khuẩn của ciprofloxacin, ofloxacin và amoxicillin lần lượt là 9,0; 6,0 và 4,0 mm. Dịch chiết trong nước và trong methanol của lá cây P. amarus ở nồng độ 100 mg/mL được kiểm tra với E. coli, Streptococcus spp, Klebsiella spp, Pseudomonas spp và Staphylococcus.  Kết quả cho thấy dịch chiết thô ức chế E. coli, Streptococcus S. aureus. Dịch chiết trong methanol  hiệu quả hơn (6–11 mm) dịch chiết trong nước (5–10 mm) trong việc ức chế các vi khuẩn gây bệnh nhưng kém hơn khi so với ofloxacin (19 mm) và ciprofloxacin (21 mm) dùng như đối chứng trong thí nghiệm. Trong một nghiên cứu khác, dịch chiết thân lá của diệp hạ châu đắng có đặc tính kháng khuẩn đối với Bacillus cereus ATCC 11778, B. subtilis ATCC 6633, Bacteroides fragilis ATCC 25285, E. faecalis ATCC 29212, E. coli ATCC 25922, P. aeruginosa ATCC 27853, S. aureus ATCC 25923, S. epidermidis ATCC 12228 và Streptococcus pyogenes ATCC 19615 với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) từ 0,25 đến 16 mg/mL. Hoạt tính kháng khuẩn này là do phyllanthin.

Theo nghiên cứu của Raphael và Khuttan (2003), dịch chiết thân và rễ của P. amarus trong methanol với liều 50, 200, and 1000 mg/kg thể trọng, dùng đường uống đã ức chế loét dạ dày của chuột Wistar gây bệnh thực nghiệm bằng ethanol tuyệt đối (8 mL/kg thể trọng). Các thông số gồm tử số, hệ số loét, chảy máu giảm đáng kể khi dùng diệp hạ châu đắng. Một nghiên cứu khác của Odetola và Akojenu (2000), dịch chiết diệp hạ châu đắng (400 mg/kg) thử nghiệm có khả năng trì hoãn thời gian bắt đầu tiêu chảy,  giảm tần số đi phân dẫn đến ức chế nhu động ruột 79,9% so với 86,9% do tác động của morphine (100 mg/kg) được dùng như đối chứng.

Trong bài tổng hợp năm 2011, Patel và ctv đã tóm lược nhiều kết quả nghiên cứu chứng minh quan trọng cả về cơ bản và ứng dụng của chất chiết diệp hạ châu hoặc các hoạt chất với nhiều tác dụng khác như chống chứng lãng quên, chống ung thư, chống sốt rét, lợi tiểu, tránh thai, hạ đường huyết và giảm cholesterol trong máu, điều hòa miễn dịch và bảo vệ thận. Ngoài ra, bài báo này cũng cho biết rằng sau nhiều năm nghiên cứu, người ta chưa phát hiện tác dụng phụ hay độc tính của diệp hạ châu

5. Kết quả một số thử nghiệm sử dụng diệp hạ châu trong chăn nuôi, thú y

 Một nghiên cứu tại Ấn độ của Sundaresan và ctv (2007) cho biết chất chiết của diệp hạ châu bổ sung 1% vào thức ăn nhiễm aflatoxin B1 (100ppb) dùng cho gà thịt từ 1-28 ngày tuổi đã đảo ngược tác động bất lợi của aflatoxin lên các chỉ số sản xuất (trọng lượng, lượng thức ăn ăn vào), thông số máu (cholesterol, PCV, hemoglobin), huyết thanh (uric acid, ALT, AST) và giữ ở mức kiểm soát được.   

   Nguyen Hieu Phuong và ctv (2012) đã công bố các thử nghiệm sử dụng chất chiết diệp hạ châu (10g/kg thức ăn) so với chất giải độc thương mại (1g/kg thức ăn) để giảm ảnh hưởng của fumonisin ở mức thấp hoặc mức cao (3980 mcg/kg) trong thức ăn heo công nghiệp. Chất chiết diệp hạ châu giảm tác dụng làm dày thành phế quản ở heo bởi fumonisin. Sự thoái hóa mỡ và hoại tử của gan heo trong lô bổ sung diệp hạ châu thấp hơn lô đối chứng.

   Nghiên cứu của Ngô Bá Duy và ctv (2012) cho biết sử dụng cao đặc diệp hạ châu đắng (30mL/ con, 3 lần/ ngày, trong 20 ngày) cho chó gây bệnh viêm gan thực nghiệm với CCl4 đã giúp 85% chó có các chỉ tiêu sinh lý (AST, ALT, ALP, TB và DB ) và hình ảnh siêu âm trở về bình thường sau 15 ngày điều trị. Tuy nhiên, việc sử dụng cao đặc diệp hạ châu đắng rất khó khăn khi con vật từ chối do vị đắng của thuốc.

 Nhằm mục tiêu che lấp vị đắng của cao đặc diệp hạ châu, nghiên cứu của Hồ Phước Thành và ctv (2012) đã bào chế dạng siro với đường saccharose và tá dược treo guar gum. Thử nghiệm bước đầu trên chó bệnh gan (sốt 40oC,mắt có ghèn, bỏ ăn khoảng 2 ngày, ói 1-2 lần/ ngày, tiêu chảy, nước tiểu màu vàng sậm, da và vàng niêm mạc mắt) cho thấy với liều 2 mL/kg siro kết hợp với Gentatylo,

Dexamethasone, glucose 5% và Lactate ringer sau điều trị 14 ngày chó có dấu hiệu phục hồi tổn thương gan tốt thông qua các thông số về máu (ALT: 47 U/L; AST: 28 U/L; TB: 0,64 mg/dLvà DB: 0,03 mg/dL)và hình ảnh siêu âm (bờ gan đều, nhu mô gan đồng nhất, túi mật bình thường) cũng như các dấu hiệu lâm sàng khác.

  Trong một nghiên cứu khác (Lê Va Sin Tơn, 2012, chưa công bố), việc bổ sung bột lá diệp hạ châu trong thức ăn gà thịt công nghiệp khỏe mạnh (giống Cobb)  với các liều từ 0,25% đến 1,5% làm trọng lượng tích lũy, tăng trọng tuyệt đối gà thấp dần và thấp hơn so với đối chứng (không bổ sung diệp hạ châu) mặc dù chưa thấy khác biệt về thống kê. Đặc biệt, lô bổ sung 1,5% diệp hạ châu có tỉ lê nuôi sống thấp hơn so với các lô còn lại.

   Như vậy, nhìn chung, diệp hạ châu có hiệu quả điều trị bệnh về gan và phục hồi chức năng gan hơn là một chất dùng phòng bệnh.

                                                                                                                                                           
Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả.

Bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam

 

 

 

Quay lại


(Ngày: 25/06/2013; 21164 lượt xem)  

Các bài viết khác
GIẢI PHÁP CHO TÌNH TRẠNG GÀ CẮN MỔ LẪN NHAU

Trong chăn nuôi gà, tình trạng cắn mổ lẫn nhau thường diễn ra vô cùng phổ biến, nhất là với mô hình chăn nuôi theo kiểu công nghiệp có mật độ cao. Nếu không có giải pháp khắc phục kịp thời, điều này ...

ẢNH HƯỞNG CỦA THÁNG PHỐI GIỐNG & NHIỆT ĐỘ ĐẾN SỐ CON SƠ SINH SỐNG CỦA LỢN NÁI LANDRACE & YORKSHIRE

Năng suất sinh sản có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong chăn nuôi lợn nái, nó bao gồm một số tính trạng như số lợn con sơ sinh sống/ổ (NBA), số lứa đẻ/nái/năm, tỷ lệ đẻ, thời gian không sản xuất của ...

BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO SAU CAI SỮA- PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hải, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Đại học Nông Lâm Tp. HCM

Tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo giai đoạn sau cai sữa có thể là: E. coli (rất phổ biến), Rotavirus (phổ biến), Coronavirus gây bệnh TGE hoặc PED (hiếm xảy ra); Salmonella (ít phổ biến).

NHỮNG HÓA CHẤT NUÔI DƯỠNG VẬT NUÔI CÓ HẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG SÚC SẢN- Th.S Võ Văn Ninh, Đại học Nông Lâm TPHCM

Ngoài 3 chất cấm như Clenbuterol, Salbutamol, Ractopamine khi cho vật nuôi ăn gây tồn dư có hại sức khỏe người tiêu dùng súc sản thì cũng cần quan tâm đến các chất có hại khác sau đây cũng đã được ...

CHẨN ĐOÁN CÁC NGUYÊN NHÂN TRUYỀN NHIỄM GÂY RỐI LOẠN SINH SẢN TRÊN HEO - PGS. TS HỒ THỊ VIỆT THU, KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG, ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Hội chứng rối loạn sinh sản hay thất bại sinh sản trên heo thường được nhắc đến trong chăn nuôi nái sinh sản. Đây là hội chứng phức tạp bao gồm nhiều vấn đề làm giảm năng suất của heo nái sinh sản ...

BỆNH VIÊM MÓNG TRÊN BÒ SỮA - PGs. Ts. LÊ ĐĂNG ĐẢNH, KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP. HCM

Các bệnh viêm móng, viêm kẽ móng, viêm vành móng và viêm khớp đã gây thiệt hại kinh tế rất lớn trên đàn bò sữa, lớn hơn so với bệnh viêm vú; nhất là trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm và nuôi nhốt như ...

CHẤT KHOÁNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG KHOÁNG TRONG CHĂN NUÔI CÔNG NGHIỆP - PGs.Ts. DƯƠNG THANH LIÊM, BỘ MÔN DINH DƯỠNG, KHOA CNTY, ĐHNL TP.HCM

Chất khoáng trong thức ăn mặc dù chiếm tỷ lệ không lớn như protein, lipid và glucid. Mặc dù chất khoáng không có giá trị năng lượng nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, ...

Ý kiến của bạn
Nha may 1 Nhà máy 2 Myanmar myanmar Nhà máy 3 Myanmar