vietnamese flag english flag
banner UV
Bản tin kỹ thuật >> Thú Y
ẢNH HƯỞNG CỦA THÁNG PHỐI GIỐNG & NHIỆT ĐỘ ĐẾN SỐ CON SƠ SINH SỐNG CỦA LỢN NÁI LANDRACE & YORKSHIRE

Năng suất sinh sản có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong chăn nuôi lợn nái, nó bao gồm một số tính trạng như số lợn con sơ sinh sống/ổ (NBA), số lứa đẻ/nái/năm, tỷ lệ đẻ, thời gian không sản xuất của lợn nái, khả năng nuôi con và tiết sữa của lợn nái. Tổng các tính trạng này là chỉ số tổng hợp về số lợn con cai sữa/nái/năm.

Tất cả các tính trạng sinh sản nêu trên của lợn nái chịu ảnh hưởng đồng thời bởi hai yếu tố là di truyền và không di truyền. Yếu tố không di truyền (còn gọi là yếu tố môi trường) thường gặp trong chăn nuôi lợn nái như chăn sóc nuôi dưỡng, thức ăn, kỹ thuật phối giống, chuồng trại và thời tiết khí hậu. Trong số các yếu tố ảnh hưởng của môi trường còn có thể được chia thành yếu tố ảnh hưởng cố định của môi trường (fixed effects) và yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường (random effects). Ảnh hưởng cố định của môi trường là những ảnh hưởng có thể xác định được ví dụ tay nghề của kỹ thuật viên phối giống, còn ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường là những ảnh hưởng không thể xác định được ví dụ một động tác sơ suất nào đó của kỹ thuật viên trong quá trình phối giống, hay một yếu tố bất thường nào đó của thời tiết khí hậu có thể ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý sinh sản của lợn nái.

Trong tính toán giá trị giống (EBV), việc giảm các ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường sẽ giúp nâng cao độ chính xác của kết quả tính EBV, đưa giá trị EBV tính toán được tiệm cận hơn với giá trị di truyền thực của con vật. Một số yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường có thể được quy nạp vào một biến xác định nào đó để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của nó, và như vậy trong trường hợp này chúng ta đã chuyển ảnh hưởng ngẫu nhiên thành ảnh hưởng cố định để hiệu chỉnh và làm tăng độ chính xác của giá trị EBV.

Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đến năng suất sinh sản của lợn nái là một dạng của ảnh hưởng môi trường mang tính ngẫu nhiên, do vậy sẽ làm giảm độ chính xác của giá trị EBV tính toán được nếu không có giải pháp loại bỏ sai số này.

Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu ảnh hưởng của các tháng phối giống trong năm, trong đó nhiệt độ không khí được coi là một chỉ thị của thời tiết khí hậu – một dạng ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường có quy luật thay đổi theo tháng, đến số lợn con sơ sinh sống/ổ (NBA), để làm cơ sở cho việc xác định biến môi trường cố định (fixed effect) trong mô hình phân tích thống kê tính toán giá trị EBV về NBA.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Số liệu nhiệt độ không khí là nhiệt độ trung bình các tháng trong năm, giai đoạn 2010-2013 đo được tại Trạm quan trắc Vũng Tàu (Tổng cục Thống kê, 2014). Tương ứng với số liệu nhiệt độ không khí, số liệu sinh sản của các dòng lợn thuộc hai giống lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn 2010-2013 được lấy từ một trại chăn nuôi lợn nái của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam ở khu vực Đông Nam bộ. Lợn nái của trại chăn nuôi này được nuôi trong chuồng kín và có hệ thống làm mát bằng tấm giấy tổ ong.

Nguồn gốc các giống lợn, phương thức quản lý và thu thập số liệu đã được mô tả bởi Lực (2004, 2006, 2008). Số lượng ổ đẻ sử dụng trong nghiên cứu này được mô tả ở Bảng 1.

Bảng 1. Số lượng ổ đẻ của lợn nái qua các tháng phối giống giai đoạn 2010-2013

Tháng phối giống 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng cộng
Số ổ đẻ 449 448 480 424 471 425 466 468 444 463 438 468 5444

Ảnh hưởng của tháng phối giống và nhiệt độ của các tháng phối giống đến NBA được đánh giá bằng mô hình phân tích thống kê [1] như sau:

        Picture1

trong đó :

Yijkmp  là số con sơ sinh còn sống/ổ (NBA) của ổ đẻ p (p=1,5444),

Bi      là ảnh hưởng của dòng lợn i (i=1,7),

Pj     là ảnh hưởng của lứa đẻ thứ j (j=1,9),

Yk     là ảnh hưởng của năm phối giống k (k=1,4),

Mm    là ảnh hưởng của tháng phối giống m (m=1,12),

Tn      là ảnh hưởng của mức n về nhiệt độ trung bình của tháng phối giống. Nhiệt độ được làm tròn và phân thành 6 mức từ mức thấp nhất (25oC) đến mức cao nhất (30oC), mỗi mức cách nhau 1 độ C (n=1,6),

eijkmnp là ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường đối với ổ đẻ p (sai số của mô hình).

Số liệu được xửa lý thống kê bằng phương pháp GLM (SAS Institute, Inc., Cary, NC). Mức độ ảnh hưởng của tháng đến NBA được tính bằng phần trăm (%) so với giá trị trung bình chung.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả phân tích từ mô hình [1] về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến số lợn con sơ sinh sống/ổ (NBA) được trình bày ở Bảng 2.

Bảng 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến số lợn con sơ sinh sống/ổ (NBA)

Nguồn phương sai Ký hiệu DF MS F P
Giống B 6 80,92 11,27 <0,0001
Lứa đẻ P 8

55,85

7,78 <0,0001
Năm phối giống Y 3 309,15 43,07 <0,0001
Tháng phối giống M 11 15,79 2,20 <0,0120
Nhiệt độ môi trường T 5 12,60 1,76 <0,1184
Môi trường ngẫu nhiên e 5410 7,18    

DF: Độ tự do, MS: Phương sai, F: Trắc nghiệm F (F-test), P: Xác suất F=0

Kết quả phân tích phương sai ở Bảng 2 cho thấy các yếu tố về giống, lứa đẻ và năm phối giống có ảnh hưởng đến số lợn con sơ sinh sống/ổ ở mức xác suất P<0,01. Mức ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê của tháng phối giống đối với số lợn con sơ sinh sống/ổ là P<0,05. Tuy nhiên, nhiệt độ không khí không cho thấy có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số lợn con sơ sinh sống/ổ (P>0,05).

Tháng phối giống trong năm là một biến tổng hợp của nhiều yếu tố ngoại cảnh có thể bao gồm các yếu tố về nhiệt độ, biên độ nhiệt, độ ẩm không khí, thời gian chiếu sáng, cường độ ánh sáng và rất nhiều các yếu tố không di truyền khác nhưng mang tính quy luật có thể xẩy ra một cách định kỳ vào các tháng trong năm. Do vậy, có thể sử dụng tháng là một biến ảnh hưởng môi trường cố định (enviroment fixed effect) trong mô hình phân tích thống kê để tính toán giá trị giống của tính trạng NBA.

Ảnh hưởng của tháng phối giống đến NBA còn được trình bày trong Hình 1. Phối giống vào tháng 6 có số con sơ sinh sống/ổ thấp nhất, bằng 95,5% so với trung bình đàn. Trong khi đó, phối giống vào tháng 1 cho số con sơ sinh sống/ổ cao nhất, đạt 102,9% so với trung bình chung của đàn.

Kết quả trình bày ở Hình 1 cho thấy các tháng 4~6 có nhiệt độ không khí trung bình cao nhất trong năm (28,5oC ~ 28,8oC) và tương ứng là NBA giảm dần theo các tháng này. Tuy nhiên, kết quả phân tích ở Bảng 2 không xác nhận nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng một cách có ý nghĩa thống kê đến số con sơ sinh sống/ổ. Trong thực tế nhiệt độ chuồng nuôi đã được khống chế khá hiệu quả bằng hệ thống làm mát. Tuy nhiên, sự thay đổi về nhiệt độ ở của các tháng trong năm có thể là một chỉ thị tốt cho các yếu tố môi trường khác mà chưa được đề cập đến trong nghiên cứu này.

KẾT LUẬN

Nhiệt độ không khí là một trong số nhiều yếu tố môi trường có sự biến động qua các tháng trong năm. Tuy nhiên, khi phân tích chỉ một yếu tố nhiệt độ trung bình của tháng thì không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số lợn con sơ sinh sống/ổ của những lợn nái trong nghiên cứu này.

Tháng phối giống trong năm là một biến tổng hợp của tất cả các biến cố về môi trường xẩy ra mang tính quy luật vào các thời điểm trong năm, và có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số lợn con sơ sinh sống/ổ. Do vậy, có thể sử dụng tháng trong năm làm biến ảnh hưởng môi trường cố định trong mô hình thống kê để tính toán giá trị giống của tính trạng NBA.

Tác giả: TS. Kiều Minh Lực và Jirawit Rachatanan

Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam

Nguồn: Channuoivietnam.com

Quay lại


(Ngày: 18/01/2016; 2908 lượt xem)  

Các bài viết khác
GIẢI PHÁP CHO TÌNH TRẠNG GÀ CẮN MỔ LẪN NHAU

Trong chăn nuôi gà, tình trạng cắn mổ lẫn nhau thường diễn ra vô cùng phổ biến, nhất là với mô hình chăn nuôi theo kiểu công nghiệp có mật độ cao. Nếu không có giải pháp khắc phục kịp thời, điều này ...

BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO SAU CAI SỮA- PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hải, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Đại học Nông Lâm Tp. HCM

Tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo giai đoạn sau cai sữa có thể là: E. coli (rất phổ biến), Rotavirus (phổ biến), Coronavirus gây bệnh TGE hoặc PED (hiếm xảy ra); Salmonella (ít phổ biến).

Nghiên Cứu Và Sử Dụng Diệp Hạ Châu Đắng Và Các Hoạt Chất Trong Chữa Bệnh - TS Võ Thị Trà An, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Đại học Nông Lâm TP.HCM

Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus Schum. & Thonn) còn gọi là cây chó đẻ vì người ta thấy chó cái sau khi sinh thường ăn cây này để ít chảy máu. Được gọi là diệp hạ châu (ngọc dưới lá) là do hình ...

NHỮNG HÓA CHẤT NUÔI DƯỠNG VẬT NUÔI CÓ HẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG SÚC SẢN- Th.S Võ Văn Ninh, Đại học Nông Lâm TPHCM

Ngoài 3 chất cấm như Clenbuterol, Salbutamol, Ractopamine khi cho vật nuôi ăn gây tồn dư có hại sức khỏe người tiêu dùng súc sản thì cũng cần quan tâm đến các chất có hại khác sau đây cũng đã được ...

CHẨN ĐOÁN CÁC NGUYÊN NHÂN TRUYỀN NHIỄM GÂY RỐI LOẠN SINH SẢN TRÊN HEO - PGS. TS HỒ THỊ VIỆT THU, KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG, ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Hội chứng rối loạn sinh sản hay thất bại sinh sản trên heo thường được nhắc đến trong chăn nuôi nái sinh sản. Đây là hội chứng phức tạp bao gồm nhiều vấn đề làm giảm năng suất của heo nái sinh sản ...

BỆNH VIÊM MÓNG TRÊN BÒ SỮA - PGs. Ts. LÊ ĐĂNG ĐẢNH, KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP. HCM

Các bệnh viêm móng, viêm kẽ móng, viêm vành móng và viêm khớp đã gây thiệt hại kinh tế rất lớn trên đàn bò sữa, lớn hơn so với bệnh viêm vú; nhất là trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm và nuôi nhốt như ...

CHẤT KHOÁNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG KHOÁNG TRONG CHĂN NUÔI CÔNG NGHIỆP - PGs.Ts. DƯƠNG THANH LIÊM, BỘ MÔN DINH DƯỠNG, KHOA CNTY, ĐHNL TP.HCM

Chất khoáng trong thức ăn mặc dù chiếm tỷ lệ không lớn như protein, lipid và glucid. Mặc dù chất khoáng không có giá trị năng lượng nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, ...

Ý kiến của bạn
Nha may 1 Nhà máy 2 Myanmar myanmar Nhà máy 3 Myanmar