vietnamese flag english flag
banner UV
Bản tin kỹ thuật >>
BỆNH “GẠO” TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) NUÔI THÂM CANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Ths. Nguyễn Thị Thu Hằng, Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ

Gần đây, trên cá tra xuất hiện một loại bệnh mới do ký sinh trùng gây ra. Do hình thái bào nang của ký sinh trùng có hình tròn hoặc bầu dục, màu trắng sữa giống hạt gạo nên người nuôi cá gọi là bệnh “gạo”. Bệnh “gạo” không làm cho cá chết hàng loạt nhưng làm cá gầy yếu và làm giảm giá trị thương phẩm, đặc biệt là sản phẩm thịt cá không tiêu thụ được. Hơn nữa, nếu tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm “gạo” cao cũng có thể gây chết cá và làm thiệt hại lớn.

Theo kết quả điều tra từ các hộ nuôi cá tra thâm canh ở một số tỉnh ĐBSCL (Hậu Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ…) và kết quả của Khoa Thủy Sản - Đại học Cần Thơ thì bệnh “gạo” thường xuất hiện trong các ao nuôi cá tra thương phẩm từ giai đoạn cá giống đến cá thịt, bệnh “gạo” xuất hiện quanh năm, không theo mùa vụ như một số nhóm ký sinh trùng khác. Kết quả phân tích mẫu bằng phương pháp soi tươi, nghiên cứu mô bệnh học và sử dụng kỹ thuật PCR đã xác định các nang “gạo” xuất hiện trong cơ cá là do thích bào tử trùng Myxosporea và vi bào tử trùng Microspora. Bào tử của hai nhóm trùng này có kích thước và hình dạng khác nhau tùy theo loài, nhưng vòng đời và quá trình xâm nhiễm trực tiếp ký sinh trong cá tương tự nhau. Bào tử ngoài môi trường nước có thể chui qua da, mang hoặc theo đường tiêu hóa vào ký sinh trong các cơ quan nội tạng của cá như mang, dạ dầy, ruột, gan… đặc biệt vùng cơ là vị trí ký sinh ưa thích của chúng. Sau một thời gian ký sinh, bào tử bắt đầu sinh sản tăng nhanh số lượng và tổ chức xung quanh vùng nhiễm bệnh bị kích thích và thoái hóa sinh ra một lớp màng bao lấy các bào tử và hình thành bào nang. Bào tử thành thục có thể ký sinh trong cơ từ giai đoạn cá giống cho đến cá thịt hoặc có thể phá vở bào nang chui ra môi trường nước và tiếp tục xâm nhiễm vào cá khác để hình thành một chu kỳ sống mới. Ngoài ra, bào tử có thể phát tán ra môi trường nước từ cá nhiễm “gạo” chết nằm dưới đáy ao.


Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cá bệnh “gạo” không có dấu hiện bệnh lý rõ ràng, chỉ thấy cá chết rải rác hàng ngày. Ở những mẫu cá nhiễm “gạo” nặng thường có dấu hiệu bệnh do vi khuẩn (gan thận mủ, xuất huyết, vàng da…) và vùng da bụng bị thủng lỗ nhỏ li ti hoặc có một số lỗ rất to. Tuy nhiên, các cơ quan nội tạng bình thường và ở một số ít cá bệnh có dịch mật nhạt màu. Kích thước bào nang dao động từ 0,5-3mm tùy theo kích cỡ cá, đôi khi tạo thành những hốc to hơn 3mm chứa đầy chất dịch màu trắng sữa (dễ vỡ) hoặc màu vàng nâu (khó vỡ) ở cá có trọng lượng lớn hơn 500gram, các bào nang có thể được nhìn thấy bằng mắt thường.

Sự phát triển của bào tử trùng bên trong cơ cá phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường. Trong đó nhiệt độ có tác động lớn nhất. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự phát triển của bào tử xảy ra chậm ở nhiệt độ nước là 16oC. Các bào tử có thể sống lâu trong nước và bùn đáy ao, nên khả năng cá nuôi bị nhiễm bào tử trùng rất cao. Mặt khác, bào tử có vỏ bọc bên ngoài bằng chất kitin khá chắc chắn và nằm trong bào nang nên thuốc và hóa chất khó tiêu diệt được chúng. Một số nghiên cứu cho thấy bào nang của vi bào tử trùng có thể kháng lại một số chất khử trùng như chlorine, các thuốc diệt giun sán như Menbendazole hay Ivermectin… cũng không có hiệu quả diệt các bào nang của vi bào tử trùng. Vì vậy, chúng ta cần phải có biện pháp phòng bệnh nghiêm ngặt cho các ao nuôi, đặc biệt là xử lý triệt để những cá đã nhiễm bệnh nhằm hạn chế lây nhiễm cho các ao và vùng nuôi khác.

Phương pháp phòng bệnh “gạo”

Hiện nay vẫn chưa có loại thuốc và hóa chất nào đặc trị triệt để bệnh “gạo”. Tuy nhiên, có thể áp dụng các nguyên tắc sau để phòng bệnh đạt hiệu quả tốt.

  1. Cải tạo ao trước khi thả nuôi: Dùng vôi sống CaO (10-15 kg/100 m2) rải xuống đáy ao và phơi nắng từ 3-7 ngày để diệt bào tử trùng chìm dưới đáy ao. Trường hợp không thể rút cạn nước trong ao nuôi thì xử lý bằng vôi CaO với liều cao từ 1,5-2,0 kg/m2.
  2. Kiểm tra cá giống (ít nhất 30 mẫu cá) trước khi thả nuôi, nếu phát hiện đàn cá đã nhiễm “gạo” thì loại bỏ đàn cá.
  3. Xử lý nước trong quá trình nuôi: Dùng 1-1,5 kg muối ăn và 2 kg vôi/100 m3 nước, hoặc định kỳ xử lý nước ao trong thời gian 15-20 ngày/lần bằng các chất khử trùng như BKC, PMP và các chất khử trùng khác theo liều chỉ dẫn của nhà sản xuất. Tốt nhất nên có hệ thống lắng, lọc và xử lý nước cấp để hạn chế mầm bệnh xâm nhiễm vào ao nuôi.
  4. Xử lý đáy ao trong quá trình nuôi: muối với liều lượng 5-7kg/100m2 kết hợp với các loại hóa chất khử trùng.
  5. Kiểm tra cá trong quá trình nuôi: Định kỳ mỗi tháng mổ khám 30 mẫu cá/lần, đối với cá lớn thì kiểm tra từ 10-15 mẫu/lần. Nếu phát hiện có cá nhiễm “gạo” trong ao thì cần phải cách ly đàn cá, khử trùng dụng cụ nuôi, vớt hết cá bệnh ra khỏi ao và xử lý cá bằng cách nấu chín hay trộn với vôi sống và chôn dưới đất. Đặc biệt là tránh gây sốc cho cá trong giai đoại nhiễm “gạo” và không vứt xác cá chết ra nguồn nước vì bào tử sẽ phóng thích và lây nhiễm sang các ao khác.

Việc trị bệnh “gạo” trên cá tra cũng hiện này chủ yếu được khuyến cáo từ các nhà sản xuất thuốc hoặc do kinh nghiệm của người nuôi. Tuy nhiên, các phương pháp trị bệnh này chưa có cơ sở khoa học vững chắc, cho đến nay các nhà khoa học chưa tìm được loại thuốc nào để đặc trị bệnh “gạo” trên các loài cá tra nuôi.

Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả.
Bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam.

 

Quay lại


(Ngày: 07/02/2017; 1455 lượt xem)  

Các bài viết khác
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG NUÔI CÁ CHẼM (Lates calcarifer), BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ - ThS. Trần Quang Khánh Vân, Khoa Thủy sản - Đại học Nông Lâm Huế

Những năm gần đây nghề nuôi cá biển nói chung, nghề nuôi cá chẽm nói riêng đã có những bước phát triển mạnh. Cá chẽm được quan tâm nghiên cứu để nuôi thương phẩm nhằm thực hiện phương hướng đa dạng ...

ỨNG DỤNG CÁC DÒNG Bacillus sp. CÓ ÍCH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN - Ths. Phạm Thị Tuyết Ngân, Khoa thủy sản, Trường Đại học Cần thơ

Giống Bacillus phân bố rất rộng trong tự nhiên, nhất là trong đất, chúng tham gia tích cực vào sự phân hủy vật chất hữu cơ nhờ vào khả năng sinh nhiều loại enzyme ngoại bào. Khả năng sinh các enzyme ...

Glutaraldehyde – Chất sát trùng phổ rộng - Ths. Huỳnh Trường Giang, Khoa Thuỷ sản - Đại học Cần Thơ

Gluataraldehyde có khả năng giết chết tế bào rất nhanh, có khả năng diệt khuẩn phổ rộng. Dung dịch glutaraldehyde 0,1–2% có thể được sử dụng trong khử trùng hoặc dùng trong việc bảo quản. ...

ỨNG DỤNG VI KHUẨN NITRATE HÓA TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN - Ts. Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2

Hiện nay vi khuẩn nitrate hóa được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước (nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và nước thải từ nuôi trồng thủy sản). Trong nuôi trồng thủy sản, nhóm vi khuẩn nitrate ...

Dinh dưỡng và sức khỏe động vật thủy sản - PGS. TS. Trần Thị Thanh Hiền, Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ

Dinh dưỡng không chỉ đóng vai trò quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của động vật thủy sản. Do đó, khi chế biến thức ăn cho tôm cá cần cung cấp đẩy đủ ...

Vai trò của vitamin C đối với tôm cá nuôi - PGS. TS. Trần Thị Thanh Hiền, Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ

Trong nghiên cứu về thức ăn cho nuôi trồng thủy sản, Vitamin C đã được nghiên cứu và đánh giá là cần thiết cho tôm cá. Cá và giáp xác không có khả năng tự tổng hợp vitamin C do thiếu enzyme ...

Ý kiến của bạn
Nha may 1 Nhà máy 2 Myanmar myanmar Nhà máy 3 Myanmar