vietnamese flag english flag
banner UV
Bài viết >> Thủy sản
Bốn dòng vi khuẩn mới gây bệnh EMS/AHPND được phát hiện trên tôm nuôi tại các nước thuộc khu vực Mỹ Latinh

Bệnh EMS/AHPND được phát hiện đầu tiên vào năm 2010 tại Trung Quốc, nguyên nhân được xác định là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. Tuy nhiên, một số dòng vi khuẩn Vibrio khác cũng có khả năng gây bệnh EMS/AHPND.

Báo cáo đầu tiên về dòng vi khuẩn Vibrio campbellii gây bệnh EMS/AHPND

Bệnh EMS/AHPND là một bệnh nguy hiểm trên tôm, nó có thể gây chết tôm với tỷ lệ cao lên đến 100% ở giai đoạn sớm. Bệnh EMS/AHPND được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2010 tại Trung Quốc và hiện nay bệnh này đã lan truyền ra nhiều quốc gia khác nhau trên khắp thế giới như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Mexico và các nước khu vực Mỹ Latinh. Bệnh EMS/AHPND gây thiệt hại lên đến hơn 1 tỷ USD/năm đối với ngành công nghiệp nuôi tôm toàn cầu.

Nhiều báo cáo trước đây cho thấy nguyên nhân gây bệnh EMS/AHPND là một dòng vi khuẩn đặc biệt là Vibrio parahaemolyticus, một loài vi khuẩn phổ biến thường phát triển mạnh khi có nhiều thức ăn dư thừa hay vật chất hữu cơ tích lũy nhiều dưới đáy ao nuôi tôm. Loài vi khuẩn này có khả năng lây lan theo chiều ngang từ tôm bệnh sang tôm khỏe và cả theo chiều dọc từ tôm bố mẹ truyền sang trứng trong quá trình sinh sản. Đây là công bố đầu tiên về một dòng vi khuẩn mới có khả năng gây bệnh EMS/AHPND trên tôm nuôi mà không phải do chủng Vibrio parahaemolyticus.

Phân lập và định danh vi khuẩn gây bệnh EMS/AHPND

Bốn dòng vi khuẩn (16-902/1, 16-903/1, 16-904/1 và 16-905/1) được phân lập dạ dày của tôm bệnh hoặc mẫu bùn đáy từ ao tôm bệnh EMS/AHPND ở các nước khu vực Mỹ Latinh trong suốt năm 2016. Định danh vi khuẩn bằng phương pháp giải trình tự gen 16S rRNA và phân tích PCR với gen mục tiêu là hly. Vi khuẩn được nuôi tăng sinh trên môi trường TSB+ (bổ sung 2% NaCl), ủ ở nhiệt độ 28-29oC, lắc với tốc độ 100 vòng/phút, vi khuẩn được kiểm tra bằng phương pháp PCR với các cặp mồi đặc hiệu cho bệnh EMS/AHPND là pirABvp.

Kết quả phân tích cho thấy, cả 4 dòng vi khuẩn phân lập được đều là V. campbellii khi giải trình tự gen 16S rRNA và PCR với gen mục tiêu là hly. Tất cả các dòng vi khuẩn V. campbellii có cả 2 gen pirAvp và pirBvp (Bảng 1).

Thí nghiệm gây cảm nhiễm để xác định khả năng gây bệnh

Một dòng vi khuẩn đại diện V. campbellii (16-904/1) được chọn lựa để xác định khả năng gây bệnh trên tôm bằng phương pháp gây cảm nhiễm. Tôm được chọn cho thí nghiệm là tôm thẻ chân trắng khỏe, không mang một số mầm bệnh đặc trưng ( tôm SPF) có trọng lượng trung bình là 2 g/con. Tôm được bố trí trong bể 90 lít với mật độ 20 con/bể, sử dụng nước biển nhân tạo có độ mặn là 25 ppt ở nhiệt độ 28oC. Tôm được gây cảm nhiễm bằng phương pháp ngâm trong nước với mật độ vi khuẩn là 2x10^5 CFU/mL. Tỷ lệ tôm chết được ghi nhận sau mỗi 12h. Dòng vi khuẩn gây bệnh EMS/AHPND phân lập tại Việt Nam năm 2013 là V. parahaemolyticus, 13-028/A3 được sử dụng như là đối chứng dương.

Bảng 1: Kết quả nghiên cứu trên các dòng vi khuẩn gây bệnh EMS/AHPND

image

(a): Pos: dương tính với phản ứng PCR với gen mục tiêu là pirABvp; (b) AHPND pathogenicity: gây bệnh AHPND được xác định bằng phương pháp gây cảm nhiễm và/hoặc mô bệnh học

Kết quả cho thấy, không phát hiện tôm chết sau 5 ngày nuôi ở nghiệm thức đối chứng âm. Tuy nhiên, ở nghiệm thức sử dụng dòng vi khuẩn V. campbellii (16-904/1) có tỷ lệ tôm chết 100% chỉ sau 2 ngày, tương tự như nghiệm thức đối chứng dương (Bảng 1).

Phân tích mô bệnh học tôm sau khi gây cảm nhiễm

Kết quả phân tích mô bệnh học trên tôm sau khi gây cảm nhiễm được trình bày trong Hình A-H. Hình A: đối chứng âm, gan tụy bình thường không có dấu hiệu tổn thương do bệnh. Hình E&F: tôm gây cảm nhiễm bởi vi khuẩn V. campbellii cho thấy dấu hiệu hoại tử và bong tróc biểu mô ống lượn gan tụy. Hình G&H: đối chứng dương với vi khuẩn gây bệnh EMS/AHPND phân lập tại Việt Nam, cho thấy các dấu hiệu tổn thương gan tụy tương tự như chủng vi khuẩn V. campbellii gây cảm nhiễm.

image

Hình 1: Kết quả phân tích mô bệnh học     

Nhận định

Kết quả nghiên cứu cho thấy, 4 dòng vi khuẩn V. campbellii phân lập được trên tôm có khả năng gây bệnh EMS/AHPND trên tôm. Đây là công bố đầu tiên về các chủng vi khuẩn khác gây bệnh trên tôm không phải do V. parahaemolyticus. Kết quả nghiên cứu khẳng định, gen pirABvp chịu trách nhiệm trong việc quyết định độc tính của vi khuẩn và nó có thể lan truyền từ chủng vi khuẩn gây bệnh EMS/AHPND (V. parahaemolyticus) sang các chủng vi khuẩn khác (V. campbellii) trong các ao nuôi tôm.

Nguồn: AQUANETVIET
Source: Jee Eun Han et al. 2017. Four AHPND strains identified on Latin American shrimp farms. The Global Aquaculture Advocate, February 3, 2017.

Quay lại


(Ngày: 14/02/2017; 1485 lượt xem)  

Các bài viết khác
Xuất khẩu cá tra có thể vượt qua 2 tỷ USD

Ngày 21/8 tại An Giang, Bộ NN&PTNT cùng UBND tỉnh An Giang tổ chức hội thảo Sơ kết sản xuất, tiêu thụ cá tra và triển khai Đề án giống cá tra 3 cấp.

Đại hội thành lập Chi hội sản xuất cá giống AFA lần thứ I nhiệm kỳ 2017 - 2020

Sáng ngày 11/05, Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến Thủy sản tỉnh An Giang tiến hành tổ chức Đại hội thành lập Chi hội sản xuất cá giống AFA lần thứ I nhiệm kỳ 2017 - 2020.

TRIỂN VỌNG SẢN XUẤT CÁ TRA NĂM 2017

(Thủy sản Việt Nam) - Số liệu của hải quan, năm 2016, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 1,67 tỷ USD, tăng 9,6% so năm 2015. Sau giai đoạn khó khăn, ngành cá tra đã phục hồi, mở ra triển vọng phát triển ...

SIÊU PHỤ GIA GIÚP TĂNG TÍNH BỀN VỮNG CHO THỨC ĂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Người nuôi trồng thủy sản luôn tìm kiếm loại thức ăn bền vững có thể làm cho các loài thủy sản khỏe mạnh. Một nghiên cứu mới do CSIC ở Tây Ban Nha kết luận rằng các nguyên liệu thức ăn nuôi trồng ...

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC CÓ CHỨA CÁC CHỦNG STREPTOMYCES, BACILLUS VÀ LACTOBACILLUS TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG GIAI ĐOẠN ẤU NIÊN

M. García et al, Trung tâm Hóa học Hoạt tính sinh học, Trường Las Villas nghiên cứu ảnh hưởng của riêng hai chủng Streptomyces hoặc kết hợp với vi khuẩn Bacillus và Lactobacillus probiotic đối với sự ...

TIỀM NĂNG SỬ DỤNG TẢO LÀM NGUỒN PROTEIN VÀ/HOẶC LIPIT TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

Theo Tiến sĩ Ingrid Lupatsch/AB Agri Ltd, trong nuôi trồng thủy sản, người sản xuất thường dựa vào thức ăn công thức để đảm bảo sự tăng trưởng tối ưu, sức khỏe và chất lượng của các loài thủy sản ...

CON TÔM VIỆT: THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra, cũng xuất hiện những cơ hội mới, là cơ hội cho người nông dân ...

Nha may 1 Nhà máy 2 Myanmar myanmar Nhà máy 3 Myanmar