Kiểm soát tảo trong ao ương Cá nước ngọt

Kiểm soát tảo trong ao ương Cá nước ngọt

02/09/2020 | 250 người đọc

Màu nước tảo trong ao ương cá rô đồng 

VAI TRÒ CỦA TẢO TRONG AO ƯƠNG CÁ

Tảo là thực vật bậc thấp, là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn tự nhiên của thủy vực. Đây là nguồn thức ăn rất quan trọng của hầu hết các loài phiêu sinh động vật, cá bột, giáp xác và ấu trùng nhuyễn thể hai mảnh vỏ,... Cá bột bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài môi trường nước khi chưa tiêu hết noãn hoàng. Thức ăn của chúng là động vật phiêu sinh kích cỡ nhỏ như luân trùng (Rotifera) giáp xác râu ngành (Cladocera). Vì thế, môi trường đủ thức ăn tự nhiên cho cá bột thì phải có lượng tảo trong nước làm thức ăn cho phiêu sinh động vật. Ngoài ra, tảo quang hợp cung cấp phần lớn lượng oxy trong nước tạo môi trường giàu oxy cho cá sống và phát triển. 

Phương trình quang hợp của tảo:           
6CO2 + 6H2O + năng lượng ánh sáng C6H12O6 + 6O 

BIỆN PHÁP DUY TRÌ MÀU NƯỚC TẢO THÍCH HỢP CHO AO ƯƠNG CÁ (CÁ TRA, CÁ RÔ ĐỒNG,...)

Tảo cần nước, ánh sáng và chất dinh dưỡng như đạm (N), lân (P), carbon (C).,.. để tăng trưởng và sinh sản. Hầu hết các loài tảo sử dụng đạm ở dạng NH4+ và NO3-, một số tảo lam sử dụng N2, đặc biệt khi đạm vô cơ trong nước bị thiếu.

Thông thường, nước ao có hàm lượng lân rất thấp so với nhu cầu phát triển của tảo. Nguồn cung cấp Carbon chủ yếu cho phiêu sinh thực vật quang hợp là khí carbonic (CO2) và bicarbonate HCO3-. Bón phân sẽ ít có hiệu quả đối với sự phát triển của tảo nếu hệ thống ao ương thiếu Carbon. Tỷ lệ C:N:P thường cung cấp cho ao để tảo phát triển là 50:10:1 tính theo khối lượng.

Bón phân để cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho tảo phát triển. Bón phân cho ao nên thực hiện trước khi thả cá bột để ương. Có thể bón phân vô cơ dạng chất lỏng, bột hay hạt (phân urea, NPK, DAP, TSP,...), phân hữu cơ (phân chuồng, bột đậu nành, bột cá, các hợp chất hữu cơ tự nhiên khác,...) và phân xanh (lá các loài cây họ đậu, lá cây điên điển,...).  Phân hữu cơ nên bón ở liều lượng 100 - 300 kg/ha bón cho đáy ao hoặc trong lúc cấp nước cho ao. Ao mới đào có thể bón lên đến khoảng 550 kg/ha phân hữu cơ. Vôi và phân vô cơ (chứa N, P, K) có thể được bón cùng một lúc với phân hữu cơ. Khó có thể xác định đúng hàm lượng dưỡng chất tối ưu cho tảo vì nó tùy thuộc vào chất lượng đất nền đáy ao và chất lượng nước cấp. Điều quan trọng là ở thời điểm thả cá ương, nước ao phải có nhiều phiêu sinh vật. Vì vậy, liều lượng phân bón sử dụng ban đầu thường cao, khoảng 20 kg urê/ha và 5 kg DAP/ha.

Có thể sử dụng bột đậu nành kết hợp với bột cá rải xuống ao để tạo thức ăn tự nhiên cho cá. Tỷ lệ bột cá/bột đậu nành là 1/1 với liều lượng 3 - 5 kg/100 m2 ao. Khoảng 2-3 ngày sau phiêu sinh vật làm thức ăn cho cá sẽ phát triển và lúc này ta mới thả cá.

Hiện nay, có nhiều sản phẩm trên thị trường giúp tạo màu nước nhanh và hiệu quả. Các sản phẩm này thành phần chủ yếu chứa các muối vô cơ với thành phần là N, P, K, ngoài ra trong phân bón gây màu còn chứa một số yếu tố vi lượng. Khi sử dụng sau 1-3 ngày, tảo và trứng nước (Moina) phát triển mạnh làm thức ăn cho cá bột.

Ngoài ra, nước thải từ ao nuôi cá tra thâm canh có chứa hàm lượng chất dinh dưỡng đạm và lân cao, được tái sử dụng để duy trì màu nước cho ao ương cá hoặc nuôi cá bán thâm canh hay nuôi trứng nước.   

Bón phân cho ao cần lưu ý thời gian phát triển của phiêu sinh vật làm thức ăn cho cá phải phù hợp  với sự phát triển của cá bột, đặc biệt là cỡ miệng của cá con thì cá mới sử dụng tốt nguồn thức ăn tự nhiên và đạt tỷ lệ sống cao. Thường sau 1 – 2 ngày tảo sẽ phát triển; sau 2 – 8 ngày thì phiêu sinh động vật nhóm luân trùng (Rotifera) phát triển nhanh; sau 13 – 26 ngày nhóm giáp xác chân chèo (Copepoda) và 18 – 40 ngày giáp xác râu ngành (Cladocera).

BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT SỰ PHÁT TRIỂN QUÁ MỨC CỦA TẢO (TẢO NỞ HOA) TRONG AO ƯƠNG CÁ

Bón quá nhiều phân cho ao ương hoặc cho cá ăn dư thức ăn, nước trở nên giàu chất dinh dưỡng dẫn đến sự phát triển dày đặc của phiêu sinh thực vật trên tầng mặt và ánh sáng không thể đi qua tầng nước sâu hơn làm cho quá trình quang hợp và oxy hòa tan thấp hơn ở tầng nước sâu. Mỗi loài tảo thích ứng với cường độ ánh sáng và hàm lượng muối dinh dưỡng khác nhau. Cường độ ánh sáng mạnh và tỉ lệ N:P thấp (nhỏ hơn 6:1) sẽ làm tảo lam phát triển không tốt cho ao nuôi, cường độ ánh sáng trung bình và tỉ lệ N:P cao (lớn hơn 7:1) thì tảo lục phát triển rất tốt cho ao nuôi.

Mật độ tảo cao làm chất lượng nước xấu đi như pH tăng cao vào buổi trưa (độ pH từ 9,5 – 10,5) và hàm lượng oxy hòa tan vào buổi sáng thấp. Do đó, cần áp dụng biện pháp sau đây để duy trì mật độ tảo cho ao ương (duy trì mật độ tảo nhỏ hơn 2 triệu tế bào/1 lít):

Thay nước: Khoảng 9–10 giờ sáng tảo tập trung nhiều ở tầng nước mặt để quang hợp, thời điểm này nên xả bớt nước tầng mặt (20-30%) và sau đó cấp thêm nước cho ao để duy trì mực nước cao hạn chế tảo phát triển mạnh trở lại. Thực hiện việc thay nước như thế trong một vài  ngày.

Giảm lượng thức ăn cho cá ương hoặc ngưng cho cá ăn đến khi kiểm soát được màu nước.

Sử dụng một số chế phẩm sinh học giúp phân hủy chất hữu cơ ở nền đáy và một số chất hấp thu khí độc sinh ra trong nước.

Sulphate đồng (CuSO4) là hóa chất dùng để diệt tảo rẻ tiền và hiệu quả. Hóa chất này phân hủy nhanh, nhưng nếu sử dụng liều cao sẽ gây nguy hiểm cho cá. Sulfate đồng thường được sử dụng để diệt tảo khi nước có độ kiềm lớn hơn 100 ppm. Không sử dụng Sulfate đồng nếu độ kiềm của nước nhỏ hơn 50 ppm. Liều lượng sử dụng tùy thuộc vào độ kiềm trong nước và được tính bằng công thức sau: lượng CuSO4 = Độ kiềm/100. Thí dụ như độ kiềm của nước là 120 mg/L thì lượng CuSO4 cần sử dụng là 120/100 = 1,2 mg/L. Nếu độ kiềm của nước lớn hơn 250 mg/L thì không nên sử dụng CuSO4 quá 2,5 mg/L sẽ gây độc cho tôm cá. Chỉ nên diệt tảo bằng CuSO4 không quá diện tích ao nhằm hạn chế tính độc của Sulphate đồng đối với cá con.

Chất tạo màu (gây màu giả cho nước ao): Các chất có màu tự nhiên được chiết xuất thực phẩm sử dụng để hạn chế ánh sáng thâm nhập vào ao làm giảm sự phát triển của tảo. Các chất tạo màu có tính trơ, không độc, dễ hoà tan trong nước và có thể giảm sự thâm nhập của ánh sáng vào tầng nước ao.

Tóm lại, kiểm soát được sự phát triển của phiêu sinh vật trong ao ương cá sẽ tạo môi trường sống thuận lợi cho cá con tăng trưởng nhanh và đạt tỷ lệ sống cao.

Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ Công ty Cổ Phần UV

Chia sẻ:
Tin liên quan

Hội chứng lở loét ở Cá  Epizootic Ulcerative Syndrome (EUS)

Hội chứng lở loét ở Cá Epizootic Ulcerative Syndrome (EUS)

Ts. Phạm Minh Đức - Khoa Thủy Sản Đại Học Cần Thơ

18/06/2020 | 827 người đọc

Trùng loa kèn, trùng ống hút - tác nhân gây bệnh trên cá nước ngọt

Trùng loa kèn, trùng ống hút - tác nhân gây bệnh trên cá nước ngọt

Ths. Nguyễn Thị Thu Hằng - Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ

12/06/2020 | 1316 người đọc

Sán lá đơn chủ dactylogyrus & gyrodactylus  gây bệnh trên cá nước ngọt

Sán lá đơn chủ dactylogyrus & gyrodactylus gây bệnh trên cá nước ngọt

TS. Nguyễn Thị Thu Hằng, Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ

03/05/2019 | 4063 người đọc

Copyright © 2020 Công ty Cổ Phần UV | Thức ăn chăn nuôi Việt Nam. Design by NiNa Co.,Ltd
Ngày: 1011  |   Tuần: 1011  |   Tháng: 59059  |   Tổng: 575669
test test UV JSC Sự An Tâm Của Nhà Chăn Nuôi UV JSC Sự An Tâm Của Nhà Chăn Nuôi 18009471 18009471

Đăng ký nhận tin