Một số bệnh thường gặp ở cá bống kèo

Một số bệnh thường gặp ở cá bống kèo

PGS. TS. Đặng Thị Hoàng Oanh, Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ

Cá bống kèo (Pseudapocryptes elongatus) là loài cá bản địa, có giá trị kinh tế cao, được tiêu thụ rộng rãi trong nước. Cá bống kèo được nuôi dưới nhiều hình thức như nuôi ghép với tôm trong ruộng lúa hay trong ruộng muối, ao nuôi chuyên tôm hay ao nuôi thâm canh. Tuy nhiên, trong những vụ nuôi gần đây nghề nuôi cá bống kèo gặp nhiều trở ngại do dịch bệnh.

Dễ nhận biết về tình trạng sức khỏe cá bống kèo nuôi vào lúc cho ăn. Nếu không khỏe cá không ăn tập trung, lờ đờ, tắp mé (Hình 1) và ao nuôi có mùi tanh. Cá bống kèo thường có dấu hiệu bệnh lý là xuất huyết ở các vây ngực, bụng, hậu môn và đuôi; xuất huyết ở mặt bụng, hai bên thân và cuống đuôi (Hình 2). Ngoài ra, cá còn bị cong thân, mắt lồi, u nhọt ở thân và nấp mang. Khi mổ cá quan sát nội quan thì sẽ thấy gan bị xuất huyết hoặc nhạt màu, xoang bụng chứa dịch, mật phình to, thận bị nhầy.

Hình 1. Cá bống kèo bệnh lờ đờ, dạt vào bờ ao (nguồn: Đặng T H Oanh, ĐHCT)

Hình 2. Những dấu hiệu bệnh lý thường gặp ở cá kèo trong ao nuôi. (A): cá bị xuất huyết ở vây ngực, vây bụng, vây hậu môn. (B): nội quan cá khỏe. (C): bụng trương to. (D): mật bị sưng. (E): gan bị sưng. (F): cong thân và bị u nhọt (nguồn: Đặng T H Oanh, ĐHCT).

 

Bệnh xảy ở cá bống kèo xảy ra trong suốt chu kỳ nuôi. Các bệnh thường gặp là xuất huyết (93,33%), lở loét (56,67%), đường ruột (50%), cong thân (20%), bệnh gan (16,67%). Bệnh thường xảy ra sau khoảng 2 tháng nuôi và ở giai đoạn cá chuyển từ ăn thức ăn chìm sang thức ăn nổi. Bệnh thường xuất hiện khi môi trường nước dơ, thức ăn thừa nhiều và cá bị nhiễm khuẩn. Khi thay nước, cá thường tập trung gần dòng nước chảy, qua ngày sau thì bỏ ăn. Tỷ lệ hao hụt có thể lên đến 80%.

            Ký sinh trùng nhiễm ở cá kèo với cường độ cảm nhiễm thấp, nhóm ngoại ký sinh thường gặp chủ yếu là trùng bánh xe (Trichodina) ở da (TLCN 50%) và mang (TLCN, 53.8%), trùng miệng lệch (Chilodonella) ở da (TLCN 67.3%), trùng loa kèn (Epistylis) ở da (TLCN 93.3%) và Ergasilus ở da (TLCN 50%). Ngược lại, với ký sinh trùng, mật độ và tỉ lệ cảm nhiễm vi khuẩn (đặc biệt là cầu khuẩn) ở cá bống kèo bệnh rất cao. Quan sát kính phết nhuộm Giêmsa thận cá kèo bệnh thường dễ dàng phát hiện nhiều cụm cầu khuẩn nằm rải rác hoặc tập trung thành từng đám trên vùng mô thận, chúng tấn công phá vỡ màng tế bào hồng cầu, tạo ra nhiều khoảng trống trong tế bào chất, vi khuẩn còn tập trung chung quanh vách tế bào hồng cầu (Hình 3). Ở mẫu cá bệnh còn có nhiều loại tế bào bạch cầu và đại thực bào bị vi khuẩn phá vỡ màng tế bào (Hình 3).

Hình 3. Kính phết nhuộm Giêmsa thận cá kèo bệnh. (A): Hồng cầu cá khỏe (100X). (B): Vi khuẩn phá vỡ tế bào. (C): Đại thực bào thực bào có chứa vi khuẩn (100X). (D): Vi khuẩn tập trung xung quanh hồng cầu (Nguồn Nguyễn Thu Dung và Đặng Thị Hoàng Oanh, 2013).

 

            Hiện tại chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về bệnh trên cá bống kèo nuôi thâm canh nên biện pháp quản lý dịch bệnh tổng hợp cần được khuyến cáo áo dụng  trong nuôi cá bống kèo thương phẩm. Trong đó đặc biệt lưu ý đến những khâu kỹ thuật là: (1) cải cải tạo nuôi thật kỹ (nhất là những ao nuôi đã bị bệnh) trước khi thả giống; (2) Chọn giống tốt và thả nuôi với mật độ hợp lý; (2) tránh cho cá ăn quá thừa, nên chọn loại thức ăn tốt, bảo quản kỹ, không để ẩm mốc. Thức ăn nên có độ đạm từ 25% và có kích cỡ phù hợp với kích cỡ miệng cá, bổ sung men tiêu hóa để kích thích cá tiêu hóa tốt hơn, bổ sung vitamin (đặc biệt là vitamin C) để giúp cá tăng cường đề kháng; (3) không sử dụng thuốc kháng sinh dưới dạng nguyên liệu hay dạng thuốc trộn vào thức ăn để cho cá ăn liên tục trong suốt thời gian nuôi. Chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh khi cá bị bệnh và có sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn; (4) Kiểm soát chất lượng nước ao nuôi, tránh tình trạng ô nhiễm và duy trì độ mặn thích hợp cho cá trong quá trình nuôi, sử dụng các chế phẩm vi sinh định kỳ để cải thiện nền đáy ao và duy trì tốt chất lượng nước ao nuôi.

Chia sẻ:
Tin liên quan

PHÂN BIỆT BỆNH KÊNH MANG CÁ CHÉP (Cyprinus carpio)

PHÂN BIỆT BỆNH KÊNH MANG CÁ CHÉP (Cyprinus carpio)

Cá chép là một đối tượng cá nuôi truyền thống trong nhiều loại hình thủy vực nước ngọt. Ở giai đoạn cá hương, chúng bắt mồi ở tầng mặt và ăn động vật phù du là chính, ở giai đoạn cá giống và trưởng thành chúng chuyển sang sống dưới đáy và thức ăn chính là động vật đáy. Cá chép thường bị nhiễm ấu trùng sán lá (Centrocestus formosanus) và thích bào tử trùng (Myxobolus sp.)

21/11/2018 | 39 người đọc

KHÁCH HÀNG GÓP Ý

Mã bảo vệ:*

reset_capcha

 

Copyright © 2018 Công ty Cổ Phần UV. Design by NiNa Co.,Ltd
Ngày: 20  |   Tuần: 341  |   Tháng: 4211  |   Tổng: 8311
Hotline: 0948119220
Chỉ đường Youtube Facebook icon zalo Zalo: https://zalo.me/0948119220