Tổng quan về các bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

Tổng quan về các bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

27/05/2020 | 4885 người đọc

TS. Trần Thị Mỹ Duyên - Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ

Hiện nay, tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) được nuôi trên rất nhiều nơi trên thế giới. Cùng với sự tăng trưởng và phát triển ngày càng nhanh của diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, tình hình dịch bệnh ở tôm thẻ chân trắng diễn biến ngày càng phức tạp. Sau đây là những bệnh nguy hiểm thường gặp trong quá trình nuôi.

BỆNH HOẠI TỬ CƠ (IMNV)

      Năm 2002, bệnh hoại tử cơ xuất hiện lần đầu tiên ở Pernambuco, Đông Bắc Braxin. Bệnh do Infectious myonecrosis virus (IMNV) gây ra. Tôm thẻ chân trắng được xem là vật chủ chính của IMNV do khả năng gây chết cao ở loài tôm này (thường tỷ lệ gây chết khoảng từ 40 đến 70%). Bệnh hoại tử cơ gây chết với tỷ lệ cao, đột ngột, thường xuất hiện sau khi độ mặn hay nhiệt độ môi trường thay đổi đột ngột hoặc sau khi chài tôm.

      Tôm nhiễm bệnh ở giai đoạn cấp tính có dấu hiệu bệnh lý như phần cơ bụng và cơ đuôi có màu trắng đục (Hình 1), có thể dẫn đến hiện tượng hoại tử và đỏ ở các vùng cơ này. Đến giai đoạn mãn tính thì tôm nhiễm bệnh chết liên tục và kéo dài trong nhiều ngày.

      Virus gây bệnh hoại tử trên tôm có vật chất di truyền là ARN mạch đôi, không có màng bao với kích thước hệ gen 7560 bp. Phân tích phát sinh loài dựa vào gen RNA-dependent RNA polymerase (RdRp) đã cho thấy IMNV thuộc họ Totiviridae, giống Giardiavirus. Mặc dù dấu hiệu lâm sàng và dấu hiệu mô bệnh học của bệnh hoại tử cơ giống với bệnh trắng đuôi trên tôm biển nhưng bệnh trắng đuôi do một loài virus khác gây ra là Penaeus vannamei novavirus – PvNV.

      Ở giai đoạn ấu niên và tiền trưởng thành, tôm thẻ chân trắng rất nhạy cảm với IMNV. Cơ quan đích được ghi nhận khi virus tấn công thường là cơ vân, mô liên kết, tế bào máu và cơ quan bạch huyết.

      IMNV có khả năng lây truyền theo chiều ngang khi tôm khỏe ăn tôm nhiễm IMNV hoặc lây lan qua nguồn nước. Khả năng truyền bệnh theo chiều dọc từ bố mẹ sang con cũng có thể xảy ra nhưng đến nay vẫn chưa xác định được là do nhiễm bên ngoài trứng hay bên trong buồng trứng.

      Hiện nay, phương pháp tiệt trùng trứng và ấu trùng là một phương pháp phòng bệnh hiệu quả tại các trại sản xuất giống. Đối với các ao nuôi tôm thịt, chọn lọc và kiểm tra con giống khỏe mạnh, sạch bệnh, không nhiễm IMNV cũng là một cách phòng bệnh.

HỘI CHỨNG TAURA (TSV)

      Hội chứng Taura trên tôm thẻ chân trắng được mô tả lần đầu tiên vào năm 1992 tại Ecuador. Bệnh do Taura syndrome virus (TSV) gây ra. Tôm thẻ chân trắng và tôm xanh Nam Mỹ (P. stylirostris ) được xem là vật chủ chính của hội chứng Taura. TSV có vật chất di truyền là ARN mạch đơn, không có màng bao với kích thước bộ gen là 10.205 bp. Đầu tiên, TSV được phân loại thuộc họ Piconarviridae nhưng gần đây đã được tái phân loại vào họ Dicistroviridae. Hội chứng Taura gây chết với tỷ lệ cao (thường tỷ lệ gây chết từ 40% đến 90%) và lây lan nhanh. Bệnh thường trải qua 3 giai đoạn: cấp tính, chuyển tiếp và mãn tính. Ở giai đoạn cấp tính, tôm thẻ chân trắng nhiễm bệnh có màu đỏ nhạt, đặc biệt là phần đuôi. Ngoài ra, tôm còn có dấu hiệu khác như mềm vỏ và ruột rỗng (Hình 2a). Ở giai đoạn này tỷ lệ tôm chết cao. Sang giai đoạn chuyển tiếp, tôm có những thương tổn màu nâu đen vỏ (Hình 2b), có thể có hoặc không có hiện tượng mềm vỏ và chuyển màu đỏ, thậm chí còn có biểu hiện hoạt động bình thường. Tôm sống sót qua giai đoạn cấp tính và mãn tính sẽ chuyển sang giai đoạn mãn tính. Ở giai đoạn này, các dấu hiệu bệnh lý có thể biến mất sau những lần lột xác nhưng tôm vẫn còn mang virus. Mặc dù tôm nhiễm TSV ở giai đoạn mãn tính có thể biểu hiện bình thường nhưng khả năng chịu đựng khi độ mặn giảm kém hơn tôm khỏe.

      Hội chứng Taura được ghi nhận trên tất cả các giai đoạn phát triển của tôm nuôi. Cơ quan đích mà TSV tấn công được ghi nhận là tế bào biểu mô của các phần phụ, vỏ, ruột trước, ruột sau và mang, hay mô liên kết, cơ quan tạo máu, cơ quan bạch huyết và tuyến râu. Hội chứng Taura có khả năng truyền bệnh theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Lây lan theo chiều ngang khi tôm khỏe ăn thịt tôm nhiễm TSV hoặc lây truyền qua nguồn nước. Khả năng lây lan theo chiều dọc từ bố mẹ sang con cũng có thể xảy ra nhưng điều này vẫn chưa được thực nghiệm chứng minh.

      Để phòng bệnh hội chứng Taura trên tôm thẻ chân trắng, kiểm tra chất lượng tôm bố mẹ và con giống là phương pháp tốt nhất. Bên cạnh đó, nước trước khi cấp vào ao nuôi phải được lắng lọc, quản lý tốt môi trường nước trong ao nuôi  kết hợp với việc chọn thức ăn có chất lượng bảo đảm và quan sát, theo dõi tình hình ao nuôi hàng ngày cũng giúp ích cho quá trình phòng bệnh. 

BỆNH ĐỐM TRẮNG (WSD)

      Bệnh đốm trắng xuất hiện lần đầu vào năm 1992 tại Trung Quốc. Bệnh nhanh chóng bùng phát và lây lan sang các nước khác như Đài Loan, Nhật Bản và trở thành dịch bệnh nguy hiểm trên toàn châu Á và châu Mỹ. Bệnh có khả năng gây chết cao, tỷ lệ gây chết lên đến 100% sau 3 đến 10 ngày phát bệnh. Bệnh do White spot syndrome virus (WSSV) gây ra. WSSV là virus có hệ gen lớn nhất với kích thước khoảng 300 kb tùy theo dòng. Vật chất di truyền của WSSV là ADN sợi đôi, có có màng bao, virus có dạng hình elip có một đuôi phụ ở một đầu. WSSV được phân loại thuộc giống mới Whispovirus, họ mới Nimaviridae.

      WSSV có phổ loài nhiễm bệnh rộng, có thể gây bệnh trên tôm, tép, tất cả các loài giáp xác 10 chân, cua … Khi bị bệnh tôm có nhiều đốm trắng kích thước từ 0,5 - 2,0 mm xuất hiện bên trong vỏ nhất là giáp vỏ đầu ngực (Hình 3), đốt bụng thứ 5, 6 và sau đó lan toàn thân. Bên cạnh đó, tôm bệnh  hoạt động kém, bỏ ăn, bơi lờ đờ ở mặt nước hay dạt vào bờ ao Đôi khi, tôm còn có hiện tượng đỏ thân. Bệnh thường xuất hiện ở thời điểm 1 - 2 tháng sau khi nuôi, khi môi trường nuôi tôm xấu bệnh dễ xuất hiện. Đối với tôm thẻ chân trắng, nhiệt độ được ghi nhận có ảnh hưởng đến biểu hiện của bệnh đốm trắng. Thực nghiệm cho thấy ở 32°C, WSSV không tiếp tục phát triển trên tôm nhiễm bệnh nhưng khi nhiệt độ hạ xuống 25°C thì tôm chết hoàn toàn. Nghiên cứu này cho thấy quá trình sao chép của WSSV giảm rõ rệt hoặc ngưng trong điều kiện nhiệt độ tăng. Điều này cũng giải thích được tại sao dịch bệnh đốm trắng hay bùng phát trong mùa mưa.

      Virus gây bệnh đốm trắng có thể nhiễm ở các cơ quan như mang, biểu bì ruột, dạ dày.... Bệnh có khả năng nhiễm trên mọi giai đoạn phát triển của tôm. Mầm bệnh lây truyền theo cả chiều dọc từ bố mẹ sang con và cả chiều ngang trong đó lây truyền qua đường ngang là chính: từ các loài giáp xác (cua, tép, chân chèo) nhiễm WSSV trong ao, do tôm ăn thức ăn nhiễm virus, do nguồn nước có WSSV và do tôm khỏe ăn tôm chết do WSSV trong ao.

      Để phòng bệnh bệnh tốt cần thực hiện tốt các nguyên tắc sau: (i) Xét nghiệm, chọn tôm bố mẹ, tôm giống không nhiễm WSSV, có chất lượng tốt; (ii) Chọn mùa vụ nuôi thích hợp; (iii) Nguồn nước cho vào ao nuôi không được lấy trực tiếp từ tự nhiên, phải được lắng lọc; (iv) Ngăn chặn sự xâm nhập của các tác nhân chuyên chở mầm bệnh như các loài giáp xác hoang dã; (vi) Quản lí và theo dõi chặt chẽ môi trường nước ao.

BỆNH HOẠI TỬ CƠ QUAN TẠO MÁU VÀ CƠ QUAN LẬP BIỂU MÔ (IHHNV)

      Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1981 ở Hawaii và nhanh chóng lây lan sang các nước châu Mỹ và châu Á. Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô do Infectious hypodermal and hematopoietic necrosis virus (IHHNV) gây ra. IHHNV là virus gây bệnh trên tôm có hệ gen nhỏ nhất, kích thước hệ gen là 4,1 kb. Vật chất di truyền của virus là ADN sợi đơn, không có màng bao. IHHNV được phân loại thuộc họ Parvoviridae, có thể thuộc giống mới Brevidensovirus.

      Mặc dù bệnh không gây chết nghiêm trọng trên tôm thẻ chân trắng nhưng bệnh làm giảm khả năng tăng trưởng của tôm đến 30% và gây ra hội chứng “còi cọc dị hình”. Tôm nhiễm bệnh biểu hiện chủy bị cong (thường cong khoảng 45 đến 90° sang trái hoặc phải) hoặc dị hình (Hình 4a, 4b và 4c), các phụ bộ ở phần đầu ngực cũng có biêu hiện không bình thường, vỏ thô ráp,… Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô làm giảm sản lượng và gây thiệt hại về kinh tế vì khi thu hoạch, tôm nhiễm bệnh thường có kích thước nhỏ, không đồng đều (Hình 4d) và dị hình.

      IHHNV được ghi nhận trong tất cả các giai đoạn phát triển của tôm nuôi. IHHNV có thể tấn công ở các cơ quan như mang, biểu mô, mô liên kết, cơ quan tạo máu, cơ quan bạch huyết, tuyến râu,... Mầm bệnh lây truyền theo cả chiều dọc và chiều ngang. Lây lan theo chiều ngang khi tôm khỏe ăn thịt tôm nhiễm IHHNV hoặc lây truyền qua nguồn nước. Khả năng lây lan theo chiều dọc từ bố mẹ sang con thông qua trứng bị nhiễm IHHNV.

      Cách phòng bệnh hiệu quả nhất vẫn là sử dụng tôm bố mẹ có chất lượng cao, sạch bệnh. Phương pháp tiệt trùng trứng và ấu trùng là một phương pháp phòng bệnh hiệu quả tại các trại sản xuất giống. Đối với các ao nuôi tôm thịt, chọn lọc và kiểm tra con giống khỏe mạnh, sạch bệnh, không nhiễm IHHNV cũng là một cách phòng bệnh.

​BỆNH ĐẦU VÀNG (YHV)

      Bệnh đầu vàng  được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1991 tại Thái Lan và nhanh chóng lây lan sang các nước châu Á. Bệnh gây tỷ lệ chết cao, có thể lên đến 100% sau 3 đến 5 ngày nhiễm bệnh. Tác nhân gây bệnh là do phức hợp virus gây bệnh đầu vàng (Yellow head virus - YHV) và  virus gây hội chứng liên quan đến mang (Gill-associated virus – GAV). Vật chất di truyền của YHV là ARN sợi đôi, có màng bao, hình que với hệ gen có kích thước 26 kb. Cho đến hiện nay, YHV được ghi nhận có 6 kiểu gen khác nhau. YHV và GAV được phân loại thuộc họ Roniviridae, giống Okavirus.

      Tôm nhiễm bệnh có biểu hiện vàng hoặc nâu ở mang, vàng ở phần đầu ngực, toàn thân có màu nhợt nhạt, sưng tuyến tiêu hóa làm cho đầu xuất hiện màu vàng. Thực nghiệm chứng minh YHV có thể gây chết tôm ở tỷ lệ cao mặc dù tôm cảm nhiễm không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh đầu vàng.

      YHV thường nhiễm ở các cơ quan bạch huyết, các mô liên kết, tuyến sinh dục, buồng trứng, tế bào biểu bì ruột .... Bệnh đầu vàng lây lan theo cả chiều ngang và chiều dọc. Lây lan theo chiều ngang khi tôm khỏe ăn thịt tôm nhiễm YHV/GAV hoặc lây truyền qua nguồn nước. Khả năng lây lan theo chiều dọc từ bố mẹ sang con thông qua trứng bị nhiễm bệnh.

      Áp dụng phương pháp phòng bệnh và ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh này bằng cách chọn lọc và kiểm tra con giống sạch bệnh trước khi thả nuôi, xử lý chất lượng nguồn nước và môi trường xung quanh cho phù hợp.

Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ Công ty Cổ Phần UV

Chia sẻ:
Tin liên quan

Vai trò của Probiotics và khoáng trong quản lý chất lượng nước và nền đáy ao nuôi tôm

Vai trò của Probiotics và khoáng trong quản lý chất lượng nước và nền đáy ao nuôi tôm

- TS. Nguyễn Thị Xuân Hồng - Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế -

29/04/2022 | 1400 người đọc

Một số bệnh kí sinh trùng thường gặp trên tôm nuôi

Một số bệnh kí sinh trùng thường gặp trên tôm nuôi

- TS. Nguyễn Thị Xuân Hồng - Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Nông Lâm Huế -

09/12/2021 | 5545 người đọc

Kiểm Soát Vi Khuẩn Trong Ao Nuôi Bằng Biện Pháp Sinh Học

Kiểm Soát Vi Khuẩn Trong Ao Nuôi Bằng Biện Pháp Sinh Học

-PGS.TS Phạm Thị Tuyết Ngân, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ -

21/09/2021 | 3885 người đọc

Ứng dụng đông trùng hạ thảo trong nuôi trồng thủy sản

Ứng dụng đông trùng hạ thảo trong nuôi trồng thủy sản

-Phòng Nghiên Cứu & Phát Triển RD Công Ty Cổ Phần UV-

13/07/2021 | 3589 người đọc

Công nghệ đông khô trong sản xuất các chủng PROBIOTIC

Công nghệ đông khô trong sản xuất các chủng PROBIOTIC

- Phòng Nghiên Cứu và Phát Triển R&D Công ty Cổ Phần UV -

06/07/2021 | 4896 người đọc

Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của vi sinh xử lý môi trường ao nuôi thủy sản

Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của vi sinh xử lý môi trường ao nuôi thủy sản

- Phòng hỗ trợ kỹ thuật Công ty Cổ phần UV -

27/04/2021 | 4536 người đọc

Vai trò và sử dụng vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

Vai trò và sử dụng vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

PGS. TS. Trần Thị Thanh Hiền - Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ và Th.S Trần Thị Bé – Khoa Nông Nghiệp – Trường Đại học Bạc Liêu

19/04/2021 | 4837 người đọc

Ứng Dụng Chế Phẩm PSB (Photosynthetic Bacteria) Trong Nuôi Tôm

Ứng Dụng Chế Phẩm PSB (Photosynthetic Bacteria) Trong Nuôi Tôm

- PGS.TS Phạm Thị Tuyết Ngân - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ -

06/04/2021 | 7439 người đọc

Copyright © 2020 Công ty Cổ Phần UV | UV Joint Stock Company . Design by NiNa Co.,Ltd
Ngày: 730  |   Tuần: 730  |   Tháng: 62048  |   Tổng: 3353682
test test UV JSC Sự An Tâm Của Nhà Chăn Nuôi UV JSC Sự An Tâm Của Nhà Chăn Nuôi 18009471 18009471

Đăng ký nhận tin