Tôm nhiễm gregarine mùa nắng nóng

logo
EN

Tôm nhiễm gregarine mùa nắng nóng
Ngày đăng: 14/07/2020 17952 Lượt xem

    tôm thẻ

    Tôm thẻ chân trắng

    Gregarine làm tôm kém ăn, lớn chậm, giảm hấp thu dinh dưỡng do đó ít tăng trưởng hơn nhiều so với thông thường.

    Gregarine là nguyên sinh động vật (protozoa) ký sinh trong ống tiêu hoá của hầu hết các loại tôm. Chúng xuất hiện ở giai đoạn từ 40-50 ngày sau khi thả giống và xuất hiện với tỷ lệ cao hơn đối với ao nuôi có mật độ cao, lượng hữu cơ trong ao quá nhiều và thời tiết nắng nóng kéo dài. Mặc dù không gây ra hiện tượng chết hàng loạt nhưng sự xuất hiện của Gregarine làm tôm kém ăn, lớn chậm, giảm hấp thu dinh dưỡng do đó ít tăng trưởng hơn nhiều so với thông thường. 

    Gregarine hay còn gọi là ký sinh trùng hai roi, chúng có ít nhất ba chi được tìm thấy là Nematopsis spp, Cephalolobus spp và Paraophioidina spp. Hầu hết các Gregarine có từ 2 đến 3 đốt và đốt cuối cùng có giác bám dùng để bám vào thành dạ dày và ruột tôm. Gregarine ký sinh trong ống tiêu hoá của tôm ở dạng trophozoite (dạng trưởng thành của bào tử động) hoặc ở dạng kén (gametesyst). 

    Tôm nhiễm bệnh do ăn phải các vật chủ trung gian như ốc, giáp xác hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ nhiễm Gregarine hoặc bào tử của chúng. Nhóm nguyên sinh động vật này có thể lây lan rộng rãi trong môi trường nước. Theo một nghiên cứu của tác giả về bệnh trên tôm tại Đài Loan năm 1989 cho thấy có trên 80% tôm sú bị nhiễm Gregarine.

    Tôm ăn phải các vật chủ trung gian có nhiễm bào tử Gregarine, bào tử trong thức ăn sẽ nảy mầm thành hạt bào tử (sporozoite) sau đó bám vào cơ quan tiêu hoá của tôm, chúng lấy chất dinh dưỡng từ vật chủ để phát triển thành thể dinh dưỡng (trophozoite). Chúng tấn công vào biểu mô ruột gây tổn thương, tắc nghẽn ruột, làm mất hoàn toàn khả năng hấp thu dinh dưỡng ở ruột trước và ruột sau của tôm. Đồng thời tạo cơ hội cho vi khuẩn khác xâm nhập (điển hình là Vibrio) gây ra các bệnh khác trên tôm. Rất khó để phát hiện tôm nhiễm bệnh ở giai đoạn đầu bằng mắt thường cho đến giai đoạn nặng ruột tôm có màu vàng hoặc vàng nâu. Hầu hết giai đoạn đầu nhiễm bệnh tôm thường ăn ít hơn, chậm lớn trông thấy, tỷ lệ FCR cũng cao hơn đáng kể.


    Ký sinh trùng Gregarine gây bệnh trên tôm sú

    Để phòng bệnh do ký sinh trùng Gregarine gây ra, người nuôi có thể sử dụng các chất kích thích để hỗ trợ sự tăng trưởng và đảm bảo sức khoẻ của tôm nuôi. Trong nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng các chất kích thích để tối ưu hoá đường ruột trong việc ngăn ngừa ký sinh trùng Gregarine trên tôm tiến hành với 12 bể nuôi tôm được chia thành hai nhóm: nhóm đối chứng có chế độ ăn uống tiêu chuẩn và nhóm có chế độ ăn uống tiêu chuẩn kết hợp với chất kích thích trong suốt 12 tuần cho thấy rằng trọng lượng tôm thu được ở nhóm sử dụng chất kích thích cao hơn so với nhóm đối chứng là 8% và tỷ lệ FCR thu được trong hai nhóm này lần lượt là 1,6 và 1,72. Tỷ lệ hao hụt của cả hai nhóm này vào cuối thử nghiệm được kiểm tra là 10%.

    Điều này cho thấy rằng các chất kích thích tối ưu hóa đường ruột tránh được tổn thương đường ruột do các ký sinh trùng gây ra, giúp tôm hấp thụ chất dinh dưỡng tốt hơn, giảm tỷ lệ hao hụt và do đó cải thiện tốc độ tăng trưởng của tôm. Chúng được thêm vào thức ăn tôm nhằm kích thích khả năng miễn dịch ở tôm, làm tăng khả năng của biểu mô ruột, đồng thời phá vỡ chu kỳ của Gregarines và tránh sự nhân lên của chúng. Các chất kích thích này là các phân tử có nguồn gốc thực vật, cho phép tăng cường khả năng miễn dịch ở tôm, kiểm soát sự xâm nhập của Gregarines. Các chất này có thể được sử dụng trong suốt chu kỳ sản xuất và không để lại dư lượng trong tôm.

    Các chất phụ gia cũng được sử dụng để tăng cường hỗ trợ sức khoẻ tôm trong việc phòng tránh các bệnh ký sinh trùng do Gregarine. Một thử nghiệm của trại tôm tại Ecuador cũng cho thấy rằng sử dụng sản phẩm có chứa tinh dầu kinh giới cũng làm giảm lượng Gregarine một cách đáng kể. Sau 5 ngày cho ăn sản phẩm chứa tinh dầu kinh giới 50% cho thấy hiện tượng nhiễm ký sinh trùng giảm xuống mức an toàn. 

    Ngoài ra để phòng tránh bệnh do ký sinh trùng Gregarine gây ra, bà con cũng cần phải cải tạo ao tốt, loại bỏ vật chủ trung gian như ốc và các loại nguyễn thể hai mảnh, lọc và xử lý nước vỏ trước khi thả tôm; Thức ăn cho tôm bố mẹ, những loại thức ăn tươi sống cần được kiểm tra kỹ hoặc chỉ cho ăn khi đã nấu chín (Lavilla-Pitogo, 2000); Tăng cường quạt khí trong ao vào mùa nắng nóng kéo dài và bổ sung vitamin C để tăng sức đề kháng cho tôm nuôi.

    Nguồn Tép Bạc

    Chia sẻ:
    Tin liên quan
    Tầm quan trọng của chất dẫn dụ và công nghệ thủy âm thụ động trong ao nuôi tôm thẻ

    Tầm quan trọng của chất dẫn dụ và công nghệ thủy âm thụ động trong ao nuôi tôm thẻ

    Sử dụng chất dẫn dụ và tích hợp công nghệ thủy âm thụ động nhằm tối ưu hóa tỷ lệ sống và tăng trưởng cho tôm thẻ.
    10/02/2022

    12/11/2020

    06/11/2020

    27/10/2020
    Covid-19 cản đường xuất khẩu cá tra năm 2021

    Covid-19 cản đường xuất khẩu cá tra năm 2021

    Tại một số thị trường lớn, nhu cầu NK cá tra đang trở lại mức trước đại dịch Covid-19. Thị trường Mỹ có mức tăng trưởng mạnh mẽ, trong khi nhu cầu của Trung Quốc đang quay trở lại. Horeca là kênh bán hàng chính của nhiều thị trường trọng điểm cá tra nên sự phục hồi phụ thuộc nhiều vào việc mở cửa trở lại nền kinh tế các nước. Nhu cầu NK của thị trường EU vẫn còn tiếp tục ì ạch khiến cho các thị trường tiềm năng có cơ hội thay thế.
    15/12/2021
    Một chủng mới có độc lực gấp 1000 lần hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi

    Một chủng mới có độc lực gấp 1000 lần hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi

    Một nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra chủng vi khuẩn mới gây bệnh hậu ấu trùng trong suốt (TPD) có độc lực gấp 1000 lần chủng gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm.
    23/11/2021
    Chiến lược kiểm soát bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi

    Chiến lược kiểm soát bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi

    Vi khuẩn gây bệnh AHPND chủ yếu tấn công vào tuyến tiêu hóa (gan tụy) và làm tổn thương các tế bào gan tụy dẫn đến rối loạn chức năng làm tôm chết hàng loạt. Tôm bị ảnh hưởng bởi AHPND có biểu hiện lờ đờ, giảm ăn, chậm lớn, đường tiêu hóa trống rỗng và gan tụy nhợt nhạt.
    23/11/2021
    Lá dâu tằm trắng giúp kháng bệnh xuất huyết trên cá rô phi

    Lá dâu tằm trắng giúp kháng bệnh xuất huyết trên cá rô phi

    Nghiên cứu được thiết kế nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ sinh hóa điều hòa miễn dịch và khả năng chống oxy hóa của chiết xuất lá dâu tằm trắng Morus alba (MAL) trên cá rô phi (Oreochromis niloticus) nhiễm Aeromonas hydrophila.
    23/11/2021
    Kết hợp vi khuẩn và vi tảo giúp gì cho nuôi trồng thủy sản?

    Kết hợp vi khuẩn và vi tảo giúp gì cho nuôi trồng thủy sản?

    Nuôi trồng thủy sản tuần hoàn đã được coi là một cách tiếp cận hiệu quả để tiết kiệm nước và năng lượng
    18/11/2021
    Florfenicol và acid chlorogenic trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm

    Florfenicol và acid chlorogenic trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm

    Bệnh EMS ảnh hưởng đến cả tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) và tôm sú (P. Monodon) gây ra thiệt hại đáng kể cho các trang trại nuôi tôm Đông Nam Á.
    28/10/2021
    Giun nhiều tơ - Vật trung gian truyền EHP cho tôm?

    Giun nhiều tơ - Vật trung gian truyền EHP cho tôm?

    Vi bào tử trùng EHP (Enterocytozoon hepatopenaei) là một nỗi lo cho ngành nuôi tôm vài năm gần đây.
    18/10/2021
    Zalo
    Hotline